Bây giờ Sư sẽ nói về thái độ hay cách xử lý đối với tác ý của những thiền sinh có trình độ cao hơn.
Khi đau quá, tự nhiên hành giả có ý muốn đổi chân. Nhưng vị ấy kịp thời có thái độ tốt .
Vị ấy tiếp tục niệm hơi thở, không để ý đến chỗ đau mà chỉ biết là có sự đau ở chỗ đó. Vị ấy niệm “đau, đau” rồi trở lại theo dõi hơi thở.
Khi theo dõi hơi thở, tâm hành giả sẽ định ở trong hơi thở. Vì không để ý đến cái đau, cái đau trở nên giảm bớt đi. Và khi cái đau giảm, tác ý muốn đổi chân cũng không còn .
Đối với thiền sinh có một sự quyết tâm ghi nhận cái đau, vị ấy ghi nhận, “Đau chỉ là đau thôi! Cảm giác chỉ là cảm giác!”
Vị ấy không suy nghĩ, “Ồ, cái này là chân tôi đau, hay là cổ tôi đau, hay là v.v. “
Vị ấy không đặt tên hay đồng hóa mình với cái đau, mà chỉ ghi nhận cái đau với một tâm địnḥ. Tâm định là tâm không suy nghĩ.
Vị ấy chỉ để tâm ở chỗ đó và trí nhớ tiếp tục ghi nhận, ghi nhận…
Cái tâm không suy nghĩ đó bắt đầu ghi nhận cái đau như là một cảm giác thô, rồi nó tiếp tục xuyên thấu, đi sâu, đi sâu vào cái đau cho đến lúc cái đau trở thành một cái cảm giác tê tê mà thôi.
Vì thế, các vị thiền sư thường nói, “Khi tâm chúng ta định, chúng ta vượt khỏi sự đau” là như vậy.
Hoặc trong trường hợp của thiền sinh chuyên niệm tâm và theo dõi tâm, cái đau đến gây khó chịu, khiến cho vị ấy có ý muốn thay đổi chân. Nhưng nhờ có thái độ đúng đắn, vị ấy tự nhắc nhở, “À, bây giờ tôi coi tâm của tôi. Thân tôi đau nhưng tâm tôi có khó chịu không?”
Vị đó trở lại nhìn cái tâm của mìnḥ.
Khi nhìn tâm, vị ấy có trí nhớ ghi nhận tâm, “Tâm thích hay tâm không thích.”
Và trong lúc tập trung ghi nhận tâm, ảnh hưởng của thọ đau sẽ không tác động tới tâm nhiều. Và vì thế, tác ý muốn đổi chân cũng không còn.
Khi ghi nhận như vậy, hành giả sẽ thấy trạng thái của các pháp hữu vi là luôn thay đổi. Từ cái này nó chuyển sang cái nọ, cái kia.
Hành giả cứ tiếp tục theo dõi như vậy. Hành giả sẽ thấy có không biết bao nhiêu tác ý sanh lên rồi diệt, sanh lên rồi diệt…
Khi có ý muốn đổi chân, trí nhớ bắt đầu ghi nhận, “muốn đổi, muốn đổi…”. Rồi nó mất.
Cứ như vậy. Trừ trường hợp, hành giả có ý muốn đổi chân thật. Hành giả ghi nhận, “À, tôi có ý muốn thật!”. Ghi nhận tác ý muốn làm hành động đó. “Muốn, muốn đổi chân.”
Rồi hành giả bắt đầu đổi chân.
Và trong khi đổi chân, hành giả niệm “Đổi chân, đổi chân.” Hành giả niệm tác ý trước rồi bắt đầu niệm thân sau, ghi nhận thật kỹ từng động tác nhỏ của động tác đổi chân.
Vậy tác ý có thể sanh khởi trong nhiều trường hợp khác nhau.
Nó có thể sinh lên từ cảm giác hay từ vọng tưởng.
Thỉnh thoảng, khi chúng ta có một ý nghĩ mạnḥ muốn làm cái gì đó thì tự nhiên một cảm giác mạnh phát sinh trong thân này như cảm giác đau bụng, khó chịu hay xúc động.
Người không thấy được tác ý thường không thể ngồi yên, vì họ có xu hướng hành động theo sự thôi thúc của tác ý.
Khi bắt đầu có một ý muốn nào đó, vị ấy đứng dậy rồi đi. Rồi có một ý muốn nào khác, vị ấy lại thay đổi động thái của mình, cứ như vậy hoài.
Vì không thấy được tác ý nghĩ của mìnḥ, không thấy từ ý nghĩ đó phát sinh một cái cảm xúc mạnh và không thấy được cảm xúc mạnh đó, vị ấy chỉ thấy, “Tôi phải làm như vậy.”
Vì thế vị ấy hành động với sự xúc động.
Nếu không có chánh niệm, phần đông chúng ta đều hành động theo bản năng. Nhưng khi biết ghi nhận tác ý, chúng ta sẽ thấy tác ý sanh rồi diệt, không tồn tại thường hằng.
Và khi thấy được như vậy, hành giả sẽ thấy được tác ý thật của mìnḥ.
Tác ý đúng thật chỉ có trong lúc bây giờ. Bây giờ làm cái gì? Đó là đúng tác ý đó!.
Ngoài tác ý đúng nghĩa, hầu hết chúng ta đều tính toán và kế hoạch.
Thiền sư Khippapañño







